HOẠT ĐỘNG CỦA LÃNH ĐẠO BỘ

Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan thông tin tới cử tri về những giải pháp nâng cao công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Thứ Ba, ngày 10/03/2026 16:40

Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Vũ Mạnh Hà: Bệnh viện K vận hành máy xạ trị gia tốc thế hệ mới giúp người bệnh được tiếp cận kỹ thuật tiên tiến ngay trong nước

Thứ Ba, ngày 10/03/2026 16:06

Thúc đẩy kết nối dữ liệu khám sức khỏe định kỳ, hoàn thiện Sổ sức khỏe điện tử cho người dân

Thứ Ba, ngày 10/03/2026 16:01

Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Văn Thuấn tiếp Chủ tịch Chiến dịch vì Trẻ em không thuốc lá

Thứ Ba, ngày 10/03/2026 15:50

Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Liên Hương dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học các đối tác ANRS MIE

Thứ Ba, ngày 10/03/2026 15:35

Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên kiểm tra công tác chuẩn bị triển khai các quy định mới về ATTP tại Cửa khẩu Quốc tế Móng Cái

Thứ Ba, ngày 10/03/2026 15:32

Bộ trưởng Bộ y tế Đào Hồng Lan tiếp tục thực hiện chương trình tiếp xúc cử tri tại tỉnh Bắc Ninh

Thứ Hai, ngày 09/03/2026 10:50

Bộ Y tế rà soát dự thảo Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng bệnh

Thứ Hai, ngày 09/03/2026 10:48

Thúc đẩy triển khai chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác phòng, chống bệnh lao

Thứ Hai, ngày 09/03/2026 10:46

Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Tri Thức: Hoạt động hiến máu không chỉ diễn ra trong những dịp cụ thể mà trở thành việc làm thường xuyên

Thứ Hai, ngày 09/03/2026 01:21

Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Tri Thức làm việc tại Cà Mau về phát triển nhân lực y tế cho Trạm Y tế cấp xã

Thứ Bẩy, ngày 07/03/2026 15:50

Ứng cử viên đại biểu Quốc hội khóa XVI, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan tiếp xúc cử tri phường Hạp Lĩnh, phường Nhân Hòa, tỉnh Bắc Ninh

Thứ Sáu, ngày 06/03/2026 12:28

Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Vũ Mạnh Hà: Việc triển khai lấy mẫu xét nghiệm tại nhà từ rất sớm là đổi mới về tư duy đưa y tế đến gần người dân hơn

Thứ Sáu, ngày 06/03/2026 03:35

Khởi động thử nghiệm lâm sàng thuốc kháng virus điều trị sốt xuất huyết và các bệnh truyền nhiễm tương tự tại Việt Nam

Thứ Năm, ngày 05/03/2026 15:34

Bộ trưởng Đào Hồng Lan: Nâng cao hiệu quả chính sách y tế để chăm sóc sức khoẻ Nhân dân tốt hơn

Thứ Năm, ngày 05/03/2026 12:15

Thứ trưởng Trần Văn Thuấn làm việc với Ban soạn thảo Nghị định về quản lý người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh

Thứ Năm, ngày 05/03/2026 12:03

Bộ Y tế tiếp tục hoàn thiện Nghị định quy định cơ sở y tế đủ điều kiện xác định tình trạng nghiện ma túy và hồ sơ, trình tự, thủ tục xác định tình trạng nghiện ma túy

Thứ Năm, ngày 05/03/2026 06:12

Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Vũ Mạnh Hà: Truyền thông y tế luôn đi trước, xử lý vấn đề nhanh, trúng, đúng

Thứ Tư, ngày 04/03/2026 16:29

Hoàn thiện thể chế, thúc đẩy chuyển đổi số, nâng cao chất lượng y tế cơ sở

Thứ Tư, ngày 04/03/2026 16:14

Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên: Xây dựng chặt chẽ Danh mục bệnh bẩm sinh cần sàng lọc, chẩn đoán, điều trị trước sinh và sơ sinh

Thứ Tư, ngày 04/03/2026 15:56

Xuất bản thông tin Xuất bản thông tin

Xu hướng ghép giác mạc lớp chọn lọc bằng laser

08/03/2026 | 15:02 PM

 | 

Ghép giác mạc hiện đại đang chuyển từ thay toàn bộ sang ghép chọn lọc từng lớp tổn thương. Nhờ công nghệ laser, phẫu thuật đạt độ chính xác cao, tăng khả năng tương thích mô ghép và cải thiện chất lượng thị giác sau mổ.

Trong lĩnh vực nhãn khoa hiện đại, ghép giác mạc đang có sự thay đổi quan trọng khi các phương pháp điều trị dần chuyển từ ghép xuyên toàn bộ giác mạc sang ghép lớp chọn lọc.

Sự hỗ trợ của công nghệ laser giúp phẫu thuật đạt độ chính xác cao, tối ưu khả năng tương thích giữa mô hiến và mô nhận, đồng thời nâng cao hiệu quả điều trị lâu dài cho người bệnh.

Trong số các bệnh lý giác mạc, giác mạc chóp đang có xu hướng gia tăng và ngày càng trẻ hóa

Trước đây, ghép giác mạc xuyên (PK) được xem là “tiêu chuẩn vàng” trong điều trị các bệnh lý giác mạc nặng, khi toàn bộ bề dày giác mạc bị tổn thương được thay thế bằng mô hiến. Tuy nhiên, do can thiệp trên toàn bộ cấu trúc giác mạc, phương pháp này thường kéo dài thời gian hồi phục, nguy cơ thải ghép và loạn thị sau phẫu thuật cao, đồng thời khó tiên lượng kết quả thị giác lâu dài.

Trong khi đó, thực tế lâm sàng cho thấy nhiều bệnh lý chỉ gây tổn thương một số lớp nhất định của giác mạc. Việc thay thế toàn bộ mô trong những trường hợp này có thể trở thành can thiệp vượt quá nhu cầu điều trị.

Sự phát triển của ghép giác mạc lớp chọn lọc đã mở ra hướng tiếp cận mới trong điều trị bệnh lý giác mạc. Kỹ thuật này cho phép bóc tách chính xác lớp mô bị tổn thương và thay thế bằng mô hiến tương ứng, đồng thời bảo tồn tối đa các lớp giác mạc còn khỏe mạnh. Đây được xem là xu hướng điều trị bảo tồn trong nhãn khoa hiện đại, giúp giảm xâm lấn và hạn chế các can thiệp không cần thiết.

Trong số các bệnh lý giác mạc, giác mạc chóp đang có xu hướng gia tăng và ngày càng trẻ hóa. Ở phần lớn trường hợp, tổn thương tập trung ở lớp nhu mô phía trước, nơi giác mạc dần mỏng đi, phồng lên và biến dạng, trong khi lớp nội mô phía sau vẫn giữ được chức năng bình thường.

Với đặc điểm này, các bác sĩ có thể áp dụng ghép giác mạc lớp trước - còn gọi là DALK - để thay thế phần mô bị tổn thương và bảo tồn lớp nội mô tự thân của người bệnh. Phương pháp này giúp duy trì cấu trúc tự nhiên của giác mạc, giảm nguy cơ thải ghép và mang lại kết quả thị giác ổn định hơn.

Tại Hội thảo “Ứng dụng công nghệ trong ghép giác mạc và điều trị giác mạc chóp” do Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc tổ chức mới đây, các chuyên gia nhãn khoa Việt Nam và Liên bang Nga đã thảo luận sâu về vai trò của ghép giác mạc lớp trước trong điều trị giác mạc chóp tiến triển.

Theo các chuyên gia, điều trị chọn lọc theo từng lớp tổn thương là xu hướng tất yếu của nhãn khoa hiện đại, giúp bảo tồn tối đa cấu trúc tự nhiên của mắt và đặc biệt có ý nghĩa đối với người bệnh trẻ tuổi, những người cần duy trì chất lượng thị lực ổn định trong thời gian dài.

Tuy nhiên, ghép giác mạc lớp chọn lọc đòi hỏi độ chính xác rất cao trong từng thao tác bóc tách. Việc kiểm soát độ sâu và diện cắt phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm và cảm giác tay của phẫu thuật viên. Chỉ một sai lệch nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đến lớp nội mô phía sau hoặc khiến bề mặt tiếp xúc giữa mô hiến và mô nhận không đạt độ đồng nhất tối ưu.

Đây cũng là lý do khiến kỹ thuật ghép giác mạc lớp truyền thống thực hiện thủ công thường có tỷ lệ thành công không cao, khoảng 36%.

Sự xuất hiện của công nghệ laser đã tạo ra bước tiến quan trọng trong lĩnh vực này. Laser cho phép thiết lập mặt cắt theo các thông số lập trình sẵn với độ chính xác tính bằng micromet, giúp giảm nguy cơ chọc thủng giác mạc và đảm bảo quá trình tách lớp diễn ra đồng đều.

Nhờ đó, mảnh ghép có thể khớp gần như hoàn hảo với mô nhận, giúp tăng độ ổn định sau phẫu thuật và hạn chế tối đa tình trạng loạn thị. So với kỹ thuật thủ công, laser không chỉ nâng cao độ chính xác và tính an toàn mà còn góp phần chuẩn hóa quy trình phẫu thuật, mang lại kết quả thị giác bền vững hơn cho người bệnh.

Theo GS.TS.BS Kanlinnikov Yury, chuyên gia nhãn khoa từ Liên bang Nga, xu hướng ghép giác mạc trên thế giới hiện nay không còn tập trung vào việc thay toàn bộ giác mạc như trước mà chuyển sang điều trị chọn lọc từng lớp tổn thương. Việc ứng dụng laser còn giúp rút ngắn thời gian phẫu thuật và giảm áp lực lên mắt người bệnh.

Tại Trung tâm Mắt Hồng Ngọc, ghép giác mạc lớp chọn lọc đang được thực hiện trên hệ thống Femto LDV Z8. Công nghệ này sử dụng laser năng lượng thấp với tần số xung cao, giúp hạn chế tối đa tác động cơ học lên giác mạc và nâng cao độ chính xác trong phẫu thuật.

Theo TS.Đinh Thị Hoàng Anh, Trưởng khoa Mắt của bệnh viện, hệ thống còn tích hợp OCT 3D cho phép quan sát chi tiết cấu trúc giác mạc trong thời gian thực. Nhờ đó, bác sĩ có thể đánh giá độ dày và độ cong của giác mạc, đồng thời điều chỉnh thao tác ngay trong quá trình phẫu thuật, đặc biệt hữu ích đối với các trường hợp giác mạc mỏng yếu hoặc biến dạng.

Sự kết hợp giữa chiến lược điều trị bảo tồn và công nghệ laser tiên tiến đang góp phần nâng cao tỷ lệ ghép giác mạc thành công, đồng thời giúp các cơ sở nhãn khoa trong nước từng bước tiệm cận các chuẩn mực điều trị quốc tế.

Theo các chuyên gia, đây không chỉ là bước tiến về mặt kỹ thuật mà còn phản ánh sự thay đổi trong tư duy điều trị: hướng tới các phương pháp chính xác hơn, an toàn hơn và mang lại hiệu quả thị giác bền vững cho người bệnh.

(Nguồn: baodautu.vn)


Thăm dò ý kiến