Thông tin Cải cách hành chính tháng 11/2020

01/11/2020 | 15:34 PM

 | 

1.Bộ Nội vụ: Ban hành Kiến trúc chính phủ điện tử của Bộ Nội vụ, phiên bản 2.0

 

Ngày 23/10/2020, Bộ Nội vụ đã có Quyết định số 892/QĐ-BNV về việc ban hành Kiến trúc chính phủ điện tử của Bộ Nội vụ, phiên bản 2.0.

Phiên bản 2.0 là phiên bản được cập nhật, bổ sung, phát triển từ Kiến trúc chính phủ điện tử Bộ Nội vụ, phiên bản 1.0, nhằm phát triển chính phủ điện tử của ngành, hướng tới ngành Nội vụ số, chính phủ số, chuyển đổi số, kinh tế số và đô thị thông minh; tạo thuận lợi cho việc triển khai Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tại Việt Nam.

Theo Kiến trúc chính phủ điện tử của Bộ Nội vụ, phiên bản 2.0, trong giai đoạn 2020-2022, Bộ Nội vụ đặt mục tiêu: Tỷ lệ hồ sơ giải quyết trực tuyến trên tổng số hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính đạt từ 20% trở lên; tích hợp 30% các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 với Cổng dịch vụ công quốc gia; rút ngắn 30 - 50% thời gian họp, giảm tối đa việc sử dụng tài liệu giấy thông qua hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc, văn phòng điện tử…

Giai đoạn 2023-2025: Tỷ lệ hồ sơ giải quyết theo dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 trên tổng số hồ sơ đạt từ 50% trở lên; 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 được tích hợp lên Cổng dịch vụ công quốc gia; tiếp tục phát triển các hệ thống nền tảng phát triển chính phủ điện tử; nghiên cứu, phát triển các giải pháp kết nối với các hệ thống thông tin của các nước trong khu vực ASEAN cũng như một số nước trên thế giới theo quy định, thông lệ quốc tế… (304) (1)

Phòng KSTTHC –Văn phòng Bộ Y tế

2.Quy chế hoạt động của Ủy ban quốc gia về chính phủ điện tử

Ngày 21/10/2020, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc – Chủ tịch Ủy ban quốc gia về chính phủ điện tử vừa ký Quyết định số 414/QĐ- UBQGCPĐT ban hành Quy chế hoạt động của Ủy ban này.

Quy chế này quy định về nguyên tắc, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc và quan hệ công tác của Ủy ban quốc gia về chính phủ điện tử.

Ủy ban quốc gia về chính phủ điện tử làm việc theo nguyên tắc dân chủ, công khai và do Chủ tịch Ủy ban quyết định.

Ủy ban và thành viên Ủy ban không làm thay chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan và người đứng đầu các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước.

Đồng thời, đề cao trách nhiệm cá nhân của các thành viên Ủy ban trong hoạt động của Ủy ban và trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được phân công; giải quyết công việc theo đúng thẩm quyền và trách nhiệm được phân công, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật và quy định của Quy chế.

Các thành viên Ủy ban chủ động giải quyết công việc trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ về xây dựng, phát triển chính phủ điện tử hướng tới chính phủ số, chuyển đổi số, kinh tế số và đô thị thông minh; tạo thuận lợi cho việc triển khai Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tại Việt Nam.

Ủy ban hoạt động bảo đảm yêu cầu phối hợp công tác, trao đổi thông tin trong giải quyết công việc theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Các thành viên Ủy ban và Tổ công tác giúp việc Ủy ban làm việc theo chế độ kiêm nhiệm.

Về nhiệm vụ, quyền hạn của các thành viên Ủy ban

Chủ tịch Ủy ban:

1. Chỉ đạo, điều hành toàn diện về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của Ủy ban; phân công nhiệm vụ các thành viên Ủy ban; ban hành chương trình, kế hoạch công tác, kiểm tra hàng năm của Ủy ban.

2. Trực tiếp chỉ đạo hoạt động xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, chuyển đổi số, kinh tế số và đô thị thông minh; tạo thuận lợi cho việc triển khai Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tại Việt Nam.

3. Triệu tập và chủ trì các cuộc họp định kỳ hoặc đột xuất của Ủy ban.

Các Phó Chủ tịch Ủy ban:

1. Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban giúp Chủ tịch Ủy ban trực tiếp chỉ đạo các hoạt động của Ủy ban; xem xét, giải quyết các công việc thường xuyên của Ủy ban. Khi Chủ tịch Ủy ban vắng mặt, Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban thay mặt Chủ tịch Ủy ban lãnh đạo công tác của Ủy ban.

2. Phó Chủ tịch Ủy ban

a) Chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban về việc triển khai, thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp xây dựng Chính phủ điện tử, chuyển đổi số, công nghệ thông tin và viễn thông phục vụ phát triển đô thị thông minh và kinh tế số;

b) Giúp Chủ tịch Ủy ban chỉ đạo, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương xây dựng, tổ chức triển khai kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng Chính phủ điện tử, chính quyền điện tử, chuyển đổi số nhằm đạt được các chỉ tiêu định lượng do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đề ra; yêu cầu các bộ, ngành, địa phương thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo mẫu và tuân thủ thời hạn báo cáo, tiến tới thực hiện chế độ thông tin, báo cáo trực tuyến;

c) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo phân công của Chủ tịch Ủy ban.

3. Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban và Phó Chủ tịch Ủy ban sau đây được gọi chung là Phó Chủ tịch Ủy ban.

Các Ủy viên Ủy ban:

  1. Tham mưu giúp Chủ tịch Ủy ban về các nhiệm vụ liên quan đến xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, chuyển đổi số, kinh tế số và đô thị thông minh thuộc phạm vi quản lý của cơ quan mình.

  2. Trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, chuyển đổi số, kinh tế số và đô thị thông minh của bộ, cơ quan mình được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao; chỉ đạo lồng ghép các nội dung về xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, chuyển đổi số, kinh tế số và đô thị thông minh trong các chiến lược, chương trình, đề án, dự án của ngành, lĩnh vực do cơ quan mình quản lý, chủ trì thực hiện.

  3.  Cho ý kiến về các vấn đề liên quan đến xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, chuyển đổi số, kinh tế số và đô thị thông minh theo chỉ đạo của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban và trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc cơ quan mình phụ trách cho ý kiến đúng hạn về các vấn đề này nếu được xin ý kiến.

  4.  Kịp thời báo cáo Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban về những vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai nhiệm vụ được giao; đề xuất sáng kiến, giải pháp tháo gỡ vướng mắc, khó khăn để thúc đẩy phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, chuyển đổi số, kinh tế số và đô thị thông minh.

  5.  Tham dự đầy đủ các cuộc họp Ủy ban, trong trường hợp không thể tham dự phải báo cáo và được sự đồng ý của người chủ trì cuộc họp; trường hợp ủy quyền cho người dự họp thay phải tham gia ý kiến bằng văn bản; cùng các Ủy viên Ủy ban xem xét, trao đổi, báo cáo Chủ tịch Ủy ban quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động của Ủy ban; chịu trách nhiệm triển khai thực hiện các ý kiến kết luận của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban liên quan đến ngành, lĩnh vực cơ quan mình phụ trách.

  6. Cử cán bộ, chuyên gia giỏi, tâm huyết tham gia Tổ công tác giúp việc Ủy ban; tạo điều kiện cho những cán bộ, chuyên gia này hoàn thành tốt nhiệm vụ được lãnh đạo Tổ công tác giao. Kịp thời thay thế những cán bộ, chuyên gia không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao theo đề nghị của Tổ trưởng Tổ công tác.

  7.  Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Ủy ban giao.

Tổ công tác giúp việc Ủy ban

1. Xây dựng, trình Chủ tịch Ủy ban ban hành chương trình, kế hoạch công tác, kiểm tra hàng năm của Ủy ban và tổ chức thực hiện. Báo cáo tình hình thực hiện các chương trình, kế hoạch của Ủy ban và kết luận, chỉ đạo của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban.

2. Nghiên cứu, đề xuất về chủ trương, chiến lược, cơ chế, chính sách (bao gồm cơ chế tài chính) và giải pháp thúc đẩy xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, chuyển đổi số, kinh tế số và đô thị thông minh; tạo thuận lợi cho việc triển khai Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tại Việt Nam.

3. Giúp Ủy ban theo dõi, đôn đốc tình hình thực hiện các chiến lược, chương trình, cơ chế, chính sách, đề án, dự án, kế hoạch và giải pháp về xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, chuyển đổi số, kinh tế số và đô thị thông minh tại các bộ, ngành, địa phương; kịp thời báo cáo và tham mưu, đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.

4. Chuẩn bị các ý kiến về các vấn đề liên quan đến xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, chuyển đổi số, kinh tế số và đô thị thông minh, báo cáo Phó Chủ tịch, Chủ tịch Ủy ban xem xét, quyết định.

5. Chuẩn bị nội dung, tài liệu phục vụ các hoạt động và cuộc họp của Ủy ban; chuẩn bị các thông báo, biên bản họp của Ủy ban; đôn đốc, kiểm tra tình hình thực hiện kết luận, chỉ đạo của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban; triển khai thực hiện việc sơ kết, đánh giá tình hình, kết quả triển khai các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, chuyển đổi số, kinh tế số và đô thị thông minh.

Đề nghị lãnh đạo Ủy ban khen thưởng các thành viên Ủy ban, Tổ công tác và các bộ, ngành, địa phương hoàn thành tốt nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.

6. Trực tiếp làm việc và đề nghị các bộ, ngành, địa phương phối hợp cung cấp các thông tin cần thiết phục vụ cho hoạt động của Ủy ban.

7. Tổ công tác được tổ chức thành các nhóm công tác do Tổ trưởng Tổ công tác quyết định và phân công nhiệm vụ.

8. Báo cáo Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên Ủy ban về tình hình, kết quả hoạt động của Ủy ban và Tổ công tác.

9. Lưu giữ hồ sơ tài liệu liên quan đến hoạt động của Ủy ban.

10. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban giao.

Chế độ làm việc và cơ chế phối hợp:

  • Các thành viên Ủy ban và Tổ công tác làm việc theo chế độ kiêm nhiệm.

  • Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban định kỳ hoặc đột xuất làm việc với Ủy viên Ủy ban, Tổ công tác để nghe báo cáo tình hình và chỉ đạo việc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Ủy ban; định kỳ hoặc đột xuất làm việc với các bộ, ngành, địa phương để chỉ đạo triển khai thực hiện xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử, chính quyền điện tử, chuyển đổi số, kinh tế số và đô thị thông minh.

  • Các Ủy viên Ủy ban được quyền giao đơn vị đầu mối chủ trì, huy động các nguồn lực và đội ngũ cán bộ, công chức của cơ quan, đơn vị mình trong thực thi nhiệm vụ được Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban giao; phối hợp với Tổ công tác trong thực hiện nhiệm vụ; báo cáo Chủ tịch Ủy ban về kết quả thực hiện.

  • Tổ trưởng Tổ công tác được trưng tập các thành viên của Tổ công tác và huy động chuyên gia trong nước và quốc tế làm việc tập trung tại Bộ Thông tin và Truyền thông trong thời gian nhất định để nghiên cứu, biên tập các đề án, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và thực hiện các nhiệm vụ khác được giao. (1927) (4)

Phòng KSTTHC –Văn phòng Bộ Y tế

3.Bộ Thông tin và Truyền thông: Tập huấn công tác kiểm soát thủ tục hành chính năm 2020

Ngày 21/10/2020, Văn phòng Chính phủ đã phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức Hội nghị tập huấn công tác kiểm soát thủ tục hành chính năm 2020 cho lãnh đạo, chuyên viên và thành viên Tổ công tác tại 17 cơ quan, đơn vị thuộc Bộ và một số doanh nghiệp lĩnh vực thông tin và truyền thông.

Tại Hội nghị, các chuyên gia và đại diện Cục Kiểm soát thủ tục hành chính - Văn phòng Chính phủ đã hướng dẫn, giải đáp để tháo gỡ một số khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP của Chính phủ về việc cắt giảm, đơn giản hóa các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh, giai đoạn 2020 - 2025.

Nghị quyết số 68/NQ-CP đã được Chính phủ đã ban hành  ngày 12/5/2020 về Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020 - 2025, với các quan điểm chỉ đạo sau: Lấy doanh nghiệp, người dân làm trung tâm, động lực phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; thúc đẩy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân tham gia hoạt động kinh doanh; giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp, người dân trong việc tuân thủ các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh. Cắt giảm, đơn giản hóa ngay những quy định không cần thiết, không hợp lý, không hợp pháp, là rào cản, gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, người dân trong các văn bản hiện hành góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả và bảo đảm mục tiêu quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp. Bảo đảm tính công khai, minh bạch; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong việc thực hiện cải cách các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh. Bảo đảm tuân thủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trong đó có các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã tham gia.

Tại Hội nghị, đại diện Cục Kiểm soát thủ tục hành chính và các chuyên gia đã giới thiệu các nội dung cơ bản của Nghị quyết số 68/NQ-CP; phần mềm thống kê, rà soát, đánh giá, tính toán chi phí tuân thủ quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh; hướng dẫn cụ thể từng yêu cầu, mục tiêu, thao tác trên Hệ thống phần mềm và trao đổi, thảo luận để thống nhất theo chỉ đạo của Chính phủ cũng như giải đáp các khó khăn, vướng mắc. Các chuyên viên thực hiện công tác thống kê, rà soát, đánh giá và tính toán chi phí tuân thủ của các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ cũng đã triển khai thực hành trên Hệ thống phần mềm để có những ý kiến, đề xuất hoàn thiện hệ thống, phù hợp với các quy định của pháp luật chuyên ngành… (526) (1,5)

Phòng KSTTHC –Văn phòng Bộ Y tế

    4.   Chính phủ yêu cầu cắt giảm tối đa số lượng văn bản quy định chi tiết, đơn giản hóa ngay những quy định bất cập

Ngày 10/10/2020, Chính phủ ban hành Nghị quyết phiên họp thường kỳ tháng 9 năm 2020. Theo Nghị quyết, Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế, pháp luật theo cắt giảm tối đa văn bản quy định chi tiết, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, đồng thời đề ra các nhiệm vụ cụ thể trong công tác cải cách hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử.

Đối với việc thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nhằm tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong quá trình thực thi pháp luật, Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ cắt giảm tối đa số lượng văn bản quy định chi tiết luật theo hướng một luật chỉ ban hành tối đa 02 nghị định quy định chi tiết, trường hợp đặc thù, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Bộ Tư pháp phối hợp với Văn phòng Chính phủ kiểm soát chặt chẽ việc ban hành các quy định liên quan tới hoạt động kinh doanh, bảo đảm giảm số lượng văn bản quy định, giảm quy định và giảm chi phí cho doanh nghiệp, người dân theo đúng tinh thần của Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12/5/2020.

Đối với việc lắp đặt các trạm thu phát sóng di động (BTS) của doanh nghiệp viễn thông trên tài sản công, Chính phủ thống nhất cho phép tiếp tục duy trì các trạm BTS đã lắp đặt trên tài sản công (không xem xét việc lắp đặt, xây dựng mới trạm BTS) cho đến khi có quy định mới của Chính phủ. Giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn các bộ, cơ quan, địa phương trong việc khai thác tài sản công để lắp đặt các trạm BTS và quản lý, sử dụng số tiền thu được; đồng thời phối hợp với các bộ, cơ quan rà soát việc sử dụng các tài sản công, đề xuất, báo cáo Chính phủ cơ chế, chính sách phù hợp để phát huy hiệu quả nguồn lực này. Giao Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, đưa quy định về việc xây dựng, lắp đặt các trạm BTS trên tài sản công vào dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 25/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Viễn thông theo quy định pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Đối với công tác cải cách hành chính, Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan chỉ đạo bộ, cơ quan mình tập trung rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa ngay những quy định bất cập, gây khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong quá trình thực hiện, tổ chức tham vấn sâu rộng các chuyên gia, đối tượng chịu tác động, huy động sự tham gia phản biện của các tổ chức, hiệp hội, doanh nghiệp; hoàn thành thống kê, cập nhật dữ liệu và tính chi phí tuân thủ các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh thuộc phạm vi quản lý trên hệ thống phần mềm được Văn phòng Chính phủ triển khai theo Nghị quyết số 68/NQ-CP trước ngày 31-10-2020.

Đối với việc xây dựng chính phủ điện tử, Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện nghiêm túc, hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ đặt ra của năm 2020 nêu tại Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 7-3-2019 của Chính phủ; khẩn trương cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, ít nhất đạt mục tiêu 30% trong năm 2020; hoàn thành xây dựng Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp bộ/tỉnh trong tháng 10-2020 và kết nối với Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia; triển khai biện pháp giám sát, điều hành an toàn, an ninh mạng tập trung và kết nối với Trung tâm giám sát an toàn không gian mạng quốc gia trong năm 2020; khẩn trương triển khai các nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3-6-2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030" và Thông báo số 339/TB-VPCP ngày 22-9-2020 của Văn phòng Chính phủ về các vấn đề liên quan đến chính phủ điện tử, kết nối, cung cấp thông tin, dữ liệu.

Theo Nghị quyết, các bộ, ngành, địa phương chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, cơ quan liên quan đẩy nhanh thực hiện khai báo, kiểm thử việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên Cổng dịch vụ công quốc gia, phấn đấu hoàn thành mục tiêu tích hợp, cung cấp tối thiểu 30% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 thuộc thẩm quyền giải quyết lên Cổng dịch vụ công quốc gia trước ngày 30/11/2020. (879) (2)

Phòng KSTTHC –Văn phòng Bộ Y tế

     5.   Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020-2025 theo Nghị quyết 68/NQ-CP

Nhằm tiếp tục thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh, ngày 12/5/2020, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 68/NQ-CP về Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020-2025. Đây là Chương trình cải cách có phạm vi bao phủ rộng nhất từ trước đến nay, thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Chính phủ nhằm thúc đẩy cải cách các quy định và tổ chức thực hiện các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh với quan điểm lấy doanh nghiệp, người dân làm trung tâm, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Từ kinh nghiệm cải cách của các nước thuộc khối OECD và thực tiễn cải cách của nước ta thời gian qua, có thể thấy chúng ta còn rất nhiều dư địa cho tăng trưởng thông qua việc cải cách.

Phạm vi của Chương trình:  Chương trình không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ thống kê, rà soát, đánh giá, tính chi phí tuân thủ, đề xuất phương án cắt giảm, đơn giản hóa đối với tất cả các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh trong các văn bản đang có hiệu lực thi hành mà cải cách toàn diện cả các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh trong dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) các bộ, cơ quan được giao xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành (bao gồm quy định TTHC, về yêu cầu, điều kiện liên quan đến hoạt động kinh doanh, về chế độ báo cáo, về tiêu chuẩn, quy chuẩn và về kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu). Mặt khác, không chỉ cải cách ở khâu xây dựng, ban hành các VBQPPL có quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh mà tập trung cải cách cả khâu tổ chức thực hiện các quy định này trên thực tế thông qua đẩy mạnh thực hiện TTHC trên môi trường điện tử và triển khai cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC theo hướng nâng cao chất lượng phục vụ, không theo địa giới hành, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, giảm thời gian, chi phí xã hội và tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp, người dân.

Để thực hiện Chương trình này, các Bộ, ngành ngoài việc tập trung vào cải cách các quy định theo hướng quy định đơn giản, thuận lợi và minh bạch hơn, cũng cần tập trung vào cải thiện và đổi mới mạnh mẽ khâu tổ chức thực hiện các quy định, đẩy mạnh dịch vụ công trực tuyến mức độ 3-4 để nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong các hoạt động của các cơ quan hành chính, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người dân, doanh nghiệp.

Chương trình đặt ra mục tiêu cụ thể sau: Trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2025, cắt giảm, đơn giản hóa ít nhất 20% số quy định và cắt giảm ít nhất 20% chi phí tuân thủ quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh tại các văn bản đang có hiệu lực thi hành tính đến hết ngày 31/5/2020 được các bộ, cơ quan thống kê, tính chi phí tuân thủ và công bố lần đầu (trước ngày 31/10/2020); đồng thời, giảm tối đa số lượng văn bản hiện hành có quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ và kiểm soát chặt chẽ việc ban hành văn bản có quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh trên cơ sở các quy định pháp luật, nhất là các văn bản hành chính, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nghị định của Chính phủ; ngăn chặn việc phát sinh những quy định không cần thiết, không hợp lý, không hợp pháp và gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, người dân.

 

Về tổ chức thực hiện: Chương trình cải cách này cũng đề cao vai trò, trách nhiệm của Bộ Tư pháp, Tổ chức pháp chế các Bộ, ngành trong việc thẩm định các quy định trong dự án, dự thảo VBQPPL; sự tham gia của Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính; vai trò chủ trì, đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra của VPCP và Văn phòng các Bộ trong triển khai thực hiện…

Thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao, đến nay, các Bộ, ngành đã ban hành Kế hoạch cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh thuộc phạm vi quản lý; thành lập Tổ công tác thực hiện Nghị quyết số 68 và lập Danh mục thống kê các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh thuộc phạm vi quản lý. Văn phòng Chính phủ đã xây dựng công cụ cải cách và tài liệu hướng dẫn các Bộ, ngành.

Trước mắt, các Bộ, ngành cần sớm hoàn thành thống kê, cập nhật dữ liệu và tính chi phí tuân thủ các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh tại các văn bản đang có hiệu lực thi hành tính đến hết ngày 31 tháng 5 năm 2020 thuộc phạm vi quản lý của bộ, cơ quan ngang bộ vào phần mềm thống kê, rà soát theo hướng dẫn của Văn phòng Chính phủ trước ngày 15 tháng 10 năm 2020; tổng hợp, báo cáo kết quả thống kê, tính chi phí tuân thủ quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của các bộ, cơ quan ngang bộ trước ngày 31 tháng 10 năm 2020, gửi Văn phòng Chính phủ để theo dõi.

Đối với các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh được sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, hủy bỏ và có biến động chi phí tuân thủ tiếp tục cập nhật, thống kê theo thời gian thực trên phần mềm hệ thống.

Cùng với việc thống kê, tính chi phí tuân thủ các quy định lần đầu, các Bộ, cơ quan ngang Bộ cũng có trách nhiệm xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phương án cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh; xây dựng văn bản thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hóa sau khi được Thủ tướng Chính phủ thông qua.

Các Bộ, ngành cần phối hợp chặt chẽ với Văn phòng Chính phủ và Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ trong hoạt động tham vấn, cùng tháo gỡ những vướng mắc khó khăn cho doanh nghiệp, người dân.

Tổ công tác thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP tại các Bộ, ngành thường xuyên tiến hành theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ tại các Bộ, ngành mình. Văn phòng Chính phủ sẽ tổ chức giao ban hàng tháng với Tổ công tác của các Bộ, ngành để kiểm tra, đôn đốc và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết. Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ sẽ định kỳ kiểm tra việc thực hiện Chương trình này tại các Bộ, ngành, địa phương.

Để thực hiện được mục tiêu Chính phủ giao tại Nghị quyết, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ đề nghị các Bộ, ngành tập trung triển khai thực hiện một số nhiệm vụ sau: Một là, tập trung cải cách mạnh mẽ các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh theo Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020-2025 ban hành kèm theo Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12/5/2020 của Chính phủ. Hai là, thúc đẩy việc giải quyết TTHC trên môi trường điện tử, tập trung lựa chọn, tái cấu trúc quy trình, cung cấp trên môi trường điện tử các TTHC có nhu cầu lớn, liên quan nhiều đến hoạt động của người dân, doanh nghiệp kết nối, tích hợp với Cổng dịch vụ công quốc gia; ban hành và triển khai Kế hoạch số hoá kết quả giải quyết TTHC.

Ba là, tiếp tục đổi mới lề lối phương thức làm việc thông qua việc xử lý hồ sơ công việc trên môi trường điện tử, thực hiện gửi nhận văn bản điện tử liên thông 4 cấp chính quyền; chuyển đổi từng bước việc điều hành dựa trên giấy tờ sang điều hành bằng dữ liệu theo quy định tại Nghị định số 09/2019/NĐ-CP; đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC cho người dân, doanh nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng phục vụ, không theo địa giới hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, giảm thời gian đi lại, chi phí xã hội và tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.Bốn là, tổ chức tiếp nhận, xử lý kịp thời các phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp./. (1623) (3,5)

Phòng KSTTHC –Văn phòng Bộ Y tế

    6.   Cải cách thủ tục hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử 6 tháng đầu năm 2020: đạt được nhiều kết quả khả quan

Ngày 30/6/2020, Chính phủ đã ban hành Báo cáo kết quả cải cách thủ tục hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử; tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết; kết quả thực hiện nhiệm vụ giao và hoạt động của Tổ công tác 6 tháng đầu năm 2020. Theo đó, trong 6 tháng đầu năm 2020, các bộ, cơ quan đã kịp thời trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành liên quan đến hoàn thiện thể chế, chính sách cho hoạt động cải cách thủ tục hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử nhằm tạo hành lang pháp lý vận hành các hệ thống thông tin nền tảng chính phủ điện tử và việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động hành chính, như Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 thực hiện thủtục hành chính trên môi trường điện tử; Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước; Nghị quyết số 71/NQ-CP về việc thông qua đề nghị xây dựng Nghị định quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm; Quyết định số 458/QĐ-TTg ngày 03/4/2020 phê duyệt Đề án Lưu trữ tài liệu điện tử của các cơ quan nhà nước giai đoạn 2020-2025; Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 24/3/2020 phê duyệt Danh mục dịch vụ công tích hợp, cung cấp trên Cổng dịch vụ công Quốc gia năm 2020; Quyết định số749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”...

Theo Báo cáo, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12/5/2020 ban hành Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020-2025, với mục tiêu cắt giảm, đơn giản hóa ít nhất 20% số quy định và cắt giảm ít nhất 20% chi phí tuân thủ quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh tại các văn bản đang có hiệu lực thi hành đến hết ngày 31/5/2020; giảm tối đa số lượng văn bản hiện hành có quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, đã tạo dấu ấn quan trọng trong hiện thực hóa phương châm phục vụ người dân, doanh nghiệp của Chính phủ; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, động lực phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Để kịp thời ứng phó với đại dịch Covid-19 và hơn nữa là hướng tới một nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả, cùng với việc chú trọng hoàn thiện thể chế để phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã chuyển đổi mạnh mẽ phương thức làm việc từ xử lý văn bản, hồ sơ, giải quyết công việc dựa trên giấy tờ sang xử lý văn bản, hồ sơ, giải quyết công việc trên môi trường điện tử và cung cấp dịch vụ công trực tuyến phục vụ người dân, doanh nghiệp. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng Chính phủ điện tử đã đạt được một số kết quả cụ thể như:

Việc gửi, nhận văn bản điện tử thông qua Trục liên thông văn bản quốc gia ngày càng phát huy hiệu quả. Đến ngày 22 tháng 6 năm 2020, đã có gần 2,1 triệu văn bản điện tử được gửi, nhận qua Trục liên thông văn bản quốc gia, góp phần giảm thời gian, chi phí xã hội (ước tính cắt giảm trên 1.200 tỷđồng/năm từ chi phí sao chụp, bưu chính...).

Hệ thống thông tin họp và xử lý công việc của Chính phủ (e-Cabinet) sau 01 năm khai trương đã phục vụ 16 Hội nghị, phiên họp của Chính phủ (thay thế việc in ấn, sao chụp hơn 52.000 tài liệu giấy) và thực hiện xử lý 385 phiếu lấy ý kiến thành viên Chính phủ (thay thế việc phát hành 61.600 phiếu giấy, hồ sơ, tài liệu kèm theo). Hệ thống cũng đã tích hợp, hỗ trợ theo dõi tình hình, kết quả thực hiện các nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao và các văn bản chỉ đạo, điều hành để chủ động trong quản lý điều hành, tăng cường giám sát việc thực thi.

Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ đã được khai trương tháng 3/2020 kết nối với Hệ thống thông tin báo cáo của bộ, ngành, địa phương hình thành Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia. Đến nay, đã kết nối với 12 Bộ, cơ quan và được tích hợp 20 chế độ báo cáo, 32/200 chỉ tiêu kinh tế - xã hội, ước tính sơ bộ khi điện tử hóa tất cả các báo cáo định kỳ gửi Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và kết nối Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ sẽ tiết kiệm khoảng 460 tỷ đồng/năm. Văn phòng Chính phủ đang tập trung triển khai xây dựng Trung tâm thông tin, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ kết nối với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu và các Trung tâm điều hành của các bộ, ngành, địa phương để phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ dựa trên dữ liệu số; dự kiến sẽ khai trương trong tháng 8/2020.

Cổng Dịch vụ công quốc gia được đưa vào vận hành từ tháng 12/2019, từ 8 nhóm dịch vụ, đến ngày 22/6/2020 đã tích hợp, cung cấp 613 dịch vụ công trực tuyến, với gần 45 triệu lượt truy cập, 173 nghìn tài khoản đăng ký, hơn 10 triệu hồ sơ được đồng bộ trạng thái; trên 135 nghìn hồ sơ được thực hiện qua Cổng dịch vụ công quốc gia; tiếp nhận, hỗ trợ trên 14 nghìn cuộc gọi của người dân, doanh nghiệp. Hiện đã kết nối tích hợp với Cổng Dịch vụ công của 17 bộ, cơ quan; Bộ Công an, Bộ Giao thông vận tải đã kết nối với nền tảng thanh toán phục vụ việc nộp phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Tổng chi phí xã hội tiết kiệm được khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến là khoảng 6.490 tỷ đồng/năm, trong đó, riêng Cổng dịch vụ công quốc gia đóng góp 3.036 tỷ đồng/năm.

Bên cạnh kết quả đạt được nói trên, công tác cải cách hành chính và xây dựng Chính phủ điện tử còn một số tồn tại sau: Việc tổ chức triển khai chưa được đồng bộ tại một số bộ, ngành, địa phương, dẫn đến kết quả thực hiện chưa đạt được như mục tiêu đề ra. Tư tưởng, thói quen của một bộ phận cán bộ, công chức vẫn làm việc dựa trên giấy tờ, ngại dùng công nghệ do sợ bị giám sát, mất quyền kiểm soát, vai trò. Một số bộ, ngành chậm trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, như Nghị định về định danh và xác thực điện tử, về bảo vệ dữ liệu cá nhân... Cơ sở dữ liệu quốc gia chưa hoàn thiện và một số ứng dụng Chính phủ điện tử chưa thật sựt hân thiện với người dùng. Trình độ công nghệ, hạ tầng kỹ thuật ở một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu. Vấn đề về bảo đảm an toàn, an ninh mạng còn tiềm ẩn nguy cơ tấn công, khai thác các lỗ hổng bảo mật. Việc tham gia sử dụng dịch vụ Chính phủ điện tử của người dân, doanh nghiệp còn chưa cao, một phần do công tác truyền thông, tuyên truyền còn hạn chế, chưa hiệu quả

Tin trưởng với sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và sự tích cực, chủ động của các bộ, ngành, địa phương, công tác cải cách thủ tục hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử 6 tháng cuối năm tiếp tục đạt được nhiều kết quả tốt đep. (1389) (3)

Phòng KSTTHC – Văn phòng Bộ Y tế

    7.   Kết quả xử lý phản ánh, kiến nghị của địa phương, doanh nghiệp 6 tháng đầu năm 2020

Theo Báo cáo tổng hợp tình hình, kết quả xử lý kiến nghị địa phương, doanh nghiệp của chính phủ 6 tháng đầu năm 2020 của Chính phủ, kết quả thực hiện như sau:

Về xử lý kiến nghị của địa phương: Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương ngày 30 - 31/12/2019, có 355 kiến nghị của các địa phương. Đến nay, 355 kiến nghị của địa phương đã được các bộ, cơ quan xử lý, trả lời nghiêm túc, đúng nội dung, vấn đề cần trả lời, xử lý.

Về xử lý kiến nghị của người dân, doanh nghiệp: Kênh tiếp nhận, trả lời phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp qua Cổng Dịch vụ công quốc gia phát huy tác dụng tích cực. Trong 6 tháng đầu năm 2020, đã tiếp nhận 2.248 phản ánh, kiến nghị. Trong đó, có 764 kiến nghị thuộc phạm vi xử lý, đã chuyển xử lý 620 phản ánh, kiến nghị. Các Bộ, ngành, địa phương đã xử lý 396 phản ánh, kiến nghị; các kiến nghị còn lại đang được doanh nghiệp và người dân bổ sung, cung cấp thông tin. Người dân, doanh nghiệp phản hồi hài lòng với kết quả giải quyết của cơ quan nhà nước.

Qua Hội nghị Thủ tướng Chính phủ với doanh nghiệp ngày 09/5/2020 và tổng hợp của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, có tổng số 654 kiến nghị của cộng đồng doanh nghiệp (khoảng 500 kiến nghị trực tiếp, trực tuyến gửi trước, trong và sau Hội nghị; 154 kiến nghị, đề xuất do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổng hợp), trong đó nhóm thành 157 nhóm kiến nghị, chủ yếu về các lĩnh vực tài chính, tín dụng, thuế... Vềcơ bản, nhiều kiến nghị, đề xuất của cộng đồng doanh nghiệp đã được tổng hợp, xử lý ở các mức độ khác nhau tại các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (như Chỉ thị số11/CT-TTg, Nghị định số 41/2020/NĐ-CP, Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020, Nghị quyết số 84/NQ-CP...), cụ thể: Có 91 nhóm kiến nghị được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, xử lý ngay với nhiều giải pháp được đưa ra đã đáp ứng được sự mong đợi của cộng đồng doanh nghiệp, như không hình sự hóa quan hệ kinh tế, dân sự; giảm 2% lãi suất cho vay đối với DNNVV từ Quỹ Phát triển DNNVV, giảm 50% lệ phí trước bạ khi đăng ký ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước đến hết năm 2020, gia hạn giấy phép lao động cho các chuyên gia, nhà quản lý doanh nghiệp...; 06 nhóm kiến nghị liên quan đến thẩm quyền giải quyết của Quốc hội đã báo cáo, trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua; Còn 60 nhóm kiến nghị đang được các Bộ, cơ quan xem xét, xử lý theo thẩm quyền.

Chính phủ yêu cầu: trong thời gian tới, các Bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ cần: Đẩy nhanh tiến độ, triển khai có kết quả các giải pháp, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo đảm an sinh xã hội trong bối cảnh dịch Covid 19 đã đề ra tại Chỉ thị số11/CT-TTg, Nghị định số 41/2020/NĐ-CP, Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020, Nghị quyết số 84/NQ-CP... Khẩn trương hoàn thành việc rà soát, sửa đổi, bổ sung ngay các văn bản pháp luật để khắc phục sự chồng chéo, tháo gỡ các nút thắt, điểm nghẽn, thúc đẩy cải cách, đổi mới, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút các nguồn lực đầu tư phục vụphát triển đất nước theo đúng chỉđạo của Chính phủ. Chủ động tổng hợp các kiến nghị của cộng đồng doanh nghiệp theo chức năng, nhiệm vụ được giao để xử lý kịp thời theo thẩm quyền; báo cáo các cấp những vấn đề vượt thẩm quyền để thúc đẩy, khai thông nguồn lực cho sản xuất kinh doanh và đầu tư. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan tiếp tục tổng hợp những khó khăn và kiến nghị của cộng đồng doanh nghiệp để xử lý theo thẩm quyền và báo cáo Thủ tướng Chính phủ những nội dung vượt thẩm quyền; đôn đốc, phối hợp với các cơ quan trong việc đề xuất giải pháp hiệu quả thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng trưởng và bảo đảm an sinh xã hội./. (780) (2)

Phòng KSTTHC – Văn phòng Bộ Y tế

    8.   Một số nhiệm vụ cải cách hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử trong thời gian tới

Trong Báo cáo kết quả cải cách thủ tục hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử 6 tháng đầu năm 2020, Chính phủ đã nêu rõ kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế cần khắc phục về cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, xây dựng Chính phủ điện tử. Bên cạnh các nhiệm vụ đã nêu trong các nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ đã đề ra một số nhiệm vụ cần thực hiện trong thời gian tới. Cụ thể như sau:

Về cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh: Các Bộ, cơ quan, địa phương cần thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị định số 45/2020/NĐ-CP và các Nghị quyết số 02/NQ-CP, Nghị quyết số 68/NQ-CP, Nghị quyết số 84/NQ-CP của Chính phủ; kiên định mục tiêu cắt giảm, đơn giản hóa ngay những quy định không cần thiết, không hợp lý, không hợp pháp, là rào cản, gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, người dân; cải cách thực chất hoạt động kiểm tra chuyên ngành. Cùng với đó, các Bộ, ngành tiếp tục tập trung rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính, bãi bỏ, chấm dứt ngay việc quy định thủ tục hành chính trong văn bản hành chính của Bộ, ngành, nhất là các thủ tục nhập khẩu nguyên liệu sản xuất (thức ăn chăn nuôi, dệt may...), các thủ tục xuất khẩu các mặt hàng chủ lực, các thủ tục về giải ngân vốn đầu tư công. Song song với việc cắt giảm thủ tục hành chính, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra công vụ; xử lý nghiêm những cá nhân, đơn vị cố ý làm trái các quy định pháp luật gây khó khăn cho công dân, tổ chức, doanh nghiệp trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính; xử lý triệt để các phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, cần duy trì tốt việc đối thoại giữa cơ quan nhà nước với cộng đồng doanh nghiệp đều đặn, có hiệu quả và thực chất để kịp thời tháo gỡ vướng mắc, khó khăn và cải thiện môi trường kinh doanh; xử lý dứt điểm và công khai kết quả xử lý các phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp. Công tác truyền thông cần được đẩy mạnh cùng với việc nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức giải quyết thủ tục hành chính và vận hành các hệ thống trực tuyến để thực sự tạo bước chuyển của các cơ quan hành chính nhà nước trong mối quan hệ với người dân, doanh nghiệp.

Về xây dựng Chính phủ điện tử: Các Bộ, ngành, địa phương cần tập trung hoàn thiện thể chế về xây dựng Chính phủ điện tử; khẩn trương xây dựng, trình ban hành các Nghị định về định danh và xác thực điện tử; về bảo vệ dữ liệu cá nhân; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về mã định danh điện tử của các cơ quan, tổ chức thống nhất theo tiêu chuẩn quốc tế; các Đề án triển khai các hệ thống bảo vệ thông tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước dùng mật mã và Đề án bảo đảm an ninh mạng trong xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử. Điện tử hóa các biểu mẫu báo cáo liên quan đến các chỉ tiêu kinh tế - xã hội theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 293/QĐ-TTg ngày 24 tháng 02 năm 2020; rà soát, lựa chọn danh mục thông tin, tần suất báo cáo phục vụ chỉ đạo, điều hành hàng ngày, hàng tháng của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trên Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ theo hướng dẫn của Văn phòng Chính phủ hoặc kết nối Hệ thống báo cáo, Hệ thống thông tin chuyên ngành của bộ, cơ quan với Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ, bảo đảm đưa Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ vận hành vào tháng 8/2020. Đẩy mạnh việc thanh toán không dùng tiền mặt, trong đó tiếp tục triển khai việc tích hợp, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, thanh toán trực tuyến phí, lệ phí, thuế, thu phạt xử lý vi phạm hành chính, đóng bảo hiểm tự nguyện, bảo hiểm y tế và các nghĩa vụ tài chính khác trên cổng Dịch vụ công quốc gia và Cổng Dịch vụ công cấp bộ, cấp tỉnh theo quy định tại Nghị định số 45/2020/NĐ-CP và chỉ tiêu tại Nghị quyết số 01/NQ-CP, Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ, Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 24 tháng 3 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ. Văn phòng Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông phát huy tốt vai trò hạt nhân trong triển khai Chính phủ điện tử; Sở Thông tin và Truyền thông, Văn phòng UBND cấp tỉnh đóng vai trò hạt nhân trong triển khai Chính quyền điện tử tại địa phương, xây dựng bộ chỉ số đánh giá, đo lường hiệu quả triển khai Chính phủ điện tử, Chính quyền điện tử. Các Bộ, ngành, địa phương thực hiện triệt để việc ký số kết quả giải quyết thủ tục hành chính và công nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính được ký số, tạo điều kiện thực hiện liên thông thủ tục hành chính và giao dịch thương mại có sử dụng kết quả giải quyết thủ tục hành chính; thực hiện tiếp nhận, giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính có ký số; kịp thời xem xét, giải quyết để tháo gỡ vướng mắc, khó khăn và xử lý nghiêm cán bộ, công chức có hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực; phát huy hiệu quả kênh tương tác tiếp nhận phản ánh, kiến nghị giữa cơ quan hành chính nhà nước với người dân, doanh nghiệp trên Cổng dịch vụ công quốc gia… (1027) (2,5)

Phòng KSTTHC – Văn phòng Bộ Y tế

  1.  Hội nghị tập huấn triển khai thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP

Trong 2 ngày (7 và 8/10), Văn phòng Chính phủ tổ chức Hội nghị tập huấn triển khai thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12/5/2020 của Chính phủ ban hành Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020-2025.

Tại Hội nghị, Cục trưởng Cục Kiểm soát thủ tục hành chính (Văn phòng Chính phủ) Ngô Hải Phan cho biết, tiếp tục thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh. Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm cải cách quốc tế và thực tiễn cải cách của nước ta thời gian qua, ngày 12/5/2020, Chính phủ thông qua Nghị quyết 68. Đây là chương trình cải cách có phạm vi bao phủ rộng nhất từ trước đến nay, được ví như là “làn sóng” cải cách thứ 3 tại Việt Nam.

Chương trình đặt mục tiêu giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2025 cắt giảm, đơn giản hóa ít nhất 20% số quy định và cắt giảm ít nhất 20% chi phí tuân thủ quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh tại các văn bản đang có hiệu lực thi hành đến hết ngày 31/5/2020 được các bộ, cơ quan thống kê, tính chi phí tuân thủ và công bố lần đầu (trước ngày 31/10/2020). Đồng thời, giảm tối đa số lượng văn bản hiện hành có quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ và kiểm soát chặt chẽ việc ban hành các văn bản có quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh trên cơ sở các quy định pháp luật, nhất là các văn bản hành chính, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Nghị định của Chính phủ; ngăn chặn việc phát sinh những quy định không cần thiết, không hợp lý, không hợp pháp và gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, người dân.

Nghị quyết 68/NQ-CP cũng hướng tới cải cách mạnh mẽ khâu tổ chức thực hiện các quy định nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong các hoạt động của các cơ quan hành chính và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người dân, doanh nghiệp.

Cục trưởng Cục Kiểm soát thủ tục hành chính Ngô Hải Phan nhấn mạnh, Hội nghị tập huấn là rất quan trọng để chính thức bắt tay vào triển khai Nghị quyết 68. Tại Hội nghị, các đại biểu đã được hướng dẫn thực hiện các nghiệp vụ cần thiết để thực hiện Nghị quyết 68 như kiểm soát hoạt động thống kê, tính chi phí tuân thủ và cắt giảm, đơn giản quy định kinh doanh; tham gia ý kiến, thẩm định đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh; phản ánh, kiến nghị và góp ý về phương án cắt giảm, đơn giản hóa quy định kinh doanh; tham vấn quy định kinh doanh và chi phí tuân thủ./. (558) (1,5)

Phòng KSTTHC – Văn phòng Bộ Y tế

    10.   Quy định mới về tiêu chí chức năng, tính năng kỹ thuật của Cổng dịch vụ công và Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh

Ngày 31/12/2019, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư số 22/2019/TT-BTTTT quy định về tiêu chí chức năng, tính năng kỹ thuật của Cổng dịch vụ công và Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh.

Thông tư gồm có 3 chương, 11 điều, áp dụng đối với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc cung cấp giải pháp, xây dựng, phát triển, vận hành Cổng Dịch vụ công và Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh.

Theo Thông tư 22/2019/TT-BTTTT, các yêu cầu chung đối với Cổng Dịch vụ công, Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh tuân thủ quy định về xây dựng Cổng Dịch vụ công và Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh theo Điều 25, Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018; tuân thủ Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam và Kiến trúc Chính phủ điện tử cấp bộ/Kiến trúc Chính phủ điện tử cấp tỉnh hiện hành. Việc kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin thực hiện thông qua nền tảng chia sẻ, tích hợp dùng chung cấp bộ, cấp tỉnh (LGSP) và nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia.

Tuân thủ các quy định về việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến và bảo đảm khả năng truy cập thuận tiện đối với trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước. 

Tuân thủ các quy định đối với Cổng Dịch vụ công và Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh trong việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính.

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 20/02/2020 và bãi bỏ Quyết định số 1697/QĐ-BTTTT ngày 23/10/2018 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành tiêu chí thống nhất về chức năng, tính năng kỹ thuật trong xây dựng Cổng Dịch vụ công, Hệ thống thông tin một cửa điện tử (Phiên bản 1.0). (388) (1)

Phòng KSTTHC – Văn phòng Bộ Y tế

11.   Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cấu trúc, định dạng dữ liệu gói tin phục vụ kết nối Cổng Dịch vụ công quốc gia với Cổng Dịch vụ công, hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh và các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành

Ngày 25/12/2019, Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành "Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cấu trúc, định dạng dữ liệu gói tin phục vụ kết nối Cổng Dịch vụ công quốc gia với Cổng Dịch vụ công, hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh và các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành" (kèm theo Thông tư số 18/2019/TT-BTTTT).

Theo đó, Quy chuẩn quy định yêu cầu định dạng dữ liệu gói tin cơ bản phục vụ kết nối Cổng dịch vụ công, Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh với Cổng dịch vụ công quốc gia, bao gồm: gói tin đồng bộ trạng thái xử lý, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính; gói tin đồng bộ số liệu thăm dò ý kiến, đánh giá chất lượng dịch vụ hành chính công; gói tin đồng bộ số liệu thống kê về tiếp nhận, xử lý, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính; gói tin về chia sẻ thông tin dữ liệu về thủ tục hành chính trên cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính; gói tin chia sẻ thông tin phản ánh kiến nghị và gói tin về thông tin trả lời góp ý, hỏi đáp.

Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu tới các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành sẽ tuân thủ theo các quy định kỹ thuật của từng cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành do Bộ chủ quản xây dựng và ban hành theo quy định pháp luật hiện hành.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2020./. (283) (1)

Phòng KSTTHC – Văn phòng Bộ Y tế