Truy cập nội dung luôn

Lãnh đạo qua các thời kỳ

Thông tin
Tóm tắt tiểu sử
Sinh ngày: 16-11-1946
Quê quán: Phú An Hòa, Châu Thành, Bến Tre
Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
Được cấp bằng Tiến sĩ năm 1992 Được công nhận chức danh Phó Giáo sư năm 2001
Quá trình học tập và công tác:
– 1961-1964: Học y tá quân y - Quân khu I, công tác tại Ban dân vận miền Đông Nam bộ.
– 1965-1971: Học y sĩ, Bệnh xã trưởng cơ quan dân vận miền Đông Nam bộ, Ban Cơ yếu Trung ương Cục.
– 1971-1974: Sinh viên y khoa Trường cán bộ y tế các cấp miền Nam.
– 1975-1976: Phó phòng Y tế quận 6, TP. Hồ Chí Minh.
– 1976-1982: Trưởng Nhà bảo sanh quận 1.
– 1983-1985: Tốt nghiệp thạc sĩ tại Liên Xô.
– 1985-1987: Trưởng Trạm Bảo vệ bà mẹ trẻ em TP. Hồ Chí Minh.
– 1987-1989: Học chính trị tại Trường Nguyễn ái Quốc.
– 1989-1992: Giám đốc Trung tâm Dân số Kế hoạch hóa gia đình TP. Hồ Chí Minh.
– 1992-1996: Thứ trưởng Bộ Y tế kiêm Phó Chủ nhiệm ủy ban Dân số Kế hoạch hóa gia đình và ủy ban Chăm sóc bảo vệ trẻ em.
– 1996: Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII.
– 1997-2002: Bộ trưởng, Chủ nhiệm ủy ban Dân số Kế hoạch hóa gia đình.
– 8/2002: Ủy viên Trung ương Đảng khóa IX, Bộ trưởng Bộ Y tế, Bí thư Ban cán sự Đảng - Bộ Y tế.
– 8/2007: Nghỉ hưu.
Lĩnh vực phụ trách
Thành tích nổi bật:

Từ khi làm Bộ trưởng Bộ Y tế, PGS.TS. Trần Thị Trung Chiến tạo ấn tượng tốt đẹp về hình ảnh một người phụ nữ thông minh, mềm dẻo nhưng quyết đoán. Ấn tượng không ai có thể phủ nhận là việc khống chế thành công dịch SARS và dịch cúm A/H1N1. Trong suốt thời gian có dịch, bà đã trực tiếp chủ trì các cuộc họp và chỉ đạo triển khai đồng bộ các hoạt động Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch SARS, chỉ đạo phân tuyến, tiếp nhận bệnh nhân, tập hợp nhà khoa học để xác định hội chứng, phác đồ điều trị, giám sát dịch bệnh, ban hành kịp thời nhiều hướng dẫn phòng ngừa và kiểm soát dịch ở những khu vực nhạy cảm như biên giới, các nơi đông người... Trực tiếp làm việc với các chuyên gia WHO đề xuất ý kiến hạn chế tử vong, đưa các biện pháp hữu hiệu hạn chế tối đa lây nhiễm bệnh và trực tiếp đến tận cơ sở y tế trong thời gian có dịch để động viên tinh thần nhân viên y tế và bệnh nhân đang điều trị.

Là người nữ Bộ trưởng Y tế đầu tiên có nhiều đóng góp trên lĩnh vực dân số (được giải thưởng Liên Hiệp Quốc về dân số năm 1999) và trên lĩnh vực y tế.

Bà đã lãnh đạo Ngành Y tế dự thảo trình Bộ chính trị ra Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới” là cương lĩnh cho Ngành Y tế hướng tới mục đích kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gói gọn trong 6 chữ vàng “Công bằng - Hiệu quả - Phát triển). Lần đầu tiên Ngành Y, Dược đặt đúng vị trí ở quan điểm chỉ đạo của Đảng: “Nghề Y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt”.

Bà cũng là người tham mưu cho Chính phủ ban hành Quyết định 139/QĐ-TTg về chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo tiếp cận được với các dịch vụ y tế chất lượng cao, góp phần quan trọng cải thiện sức khỏe người nghèo.

Khen thưởng:

Được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất; Huân chương Quyết thắng hạng Nhất; Huân chương Lao động hạng Nhất và nhiều huy chương và phần thưởng cao quý khác.

Danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân năm 2007.​

Thăm dò ý kiến

  • Tổng số lượt truy cập: 11658645
  • Số người đang truy cập: 1